Những người mê say vẻ đẹp của văn nghệ dân gian Tây Nguyên

Cập nhật lúc: 22:02 09/01/2018

Kho tàng văn nghệ dân gian của các dân tộc thiểu số Tây Nguyên không chỉ đồ sộ mà còn vô cùng độc đáo.

Đó là những “bảo tàng sống” về đời sống xã hội của một tập hợp phong phú các tộc người bản địa; của tín ngưỡng đa thần giáo; của hệ thống các phong tục tập quán riêng biệt; của những áng văn chương truyền miệng dài hơi mà các nghệ nhân hát kể “suốt ngày dài đêm thâu”; của nhịp điệu ching chiêng và vòng xoang quyến rũ những bàn chân trần, những đôi tay mềm nâu màu nắng; của những câu hát giao duyên ngọt ngào trong điệu sáo, tiếng ting ning những đêm trăng cao nguyên vời vợi...

Ngay từ khi đặt chân đến miền đất Tây Nguyên, người Pháp đã bị cuốn hút bởi bề dày và  tính độc đáo của văn hóa dân gian Tây Nguyên. Không phải ngẫu nhiên mà một nhà văn hóa lớn như Comdominas nhiều năm sau, sang tận thế kỷ 21, còn khao khát trở lại vùng văn hóa anh em M’nông Gar (Đắk Lắk). Hoặc một Sabachie đã gần như “quên mất” vai trò công sứ khi sưu tầm và dịch sang tiếng Pháp không chỉ “Trường ca Dam San” mà cả bộ luật tục hàng trăm câu bằng vần của người Êđê. Hay Anne De Mautecloque “ăn dầm nằm dề” để tìm hiểu và viết “Người Êđê, một chế độ  mẫu quyền”; đức cha Jacques Dournes yêu văn hóa Tây Nguyên đến chấp nhận từ bỏ tất cả, sống và chết với Tây Nguyên...

Nghệ nhân tham gia Trại sáng tác điêu khắc gỗ dân gian Tây Nguyên năm 2015.

Cũng từ những năm tháng ấy, bước chân các học giả, các nhà nghiên cứu như Nguyễn Đổng Chi, Cửu Long Giang, Toan Ánh... đã lần lượt nối tiếp bước trước hành trình tìm đến Tây Nguyên, để có những “Mọi Kon Tum” (nay được xuất bản dưới tên gọi “Người Bâhnar ở Kon Tum),  “Buôn làng cổ truyền xứ Thượng” đến hôm nay vẫn còn là những tác phẩm khiến người đọc phải lưu tâm bởi tính xác thực của những tư liệu gốc... Còn tại Hà Nội, khi đất nước đang bị tạm chia làm hai miền, những bản trường ca, sử thi bất hủ của Tây Nguyên ra mắt dưới dạng tác phẩm văn học (Dam San, Xing Nhã, Dam Phu...), những điệu múa, làn điệu dân ca độc đáo... đã được các nhà sưu tầm nghiên cứu giới thiệu với bạn yêu văn học nghệ thuật trong và ngoài nước.

Từ sau 1975, việc sưu tầm nghiên cứu văn hóa cổ truyền Tây Nguyên  được đặt thành trách nhiệm của nhiều ngành, nhiều người và dần trở thành đích đến không thể thiếu của những người làm công tác nghiên cứu  khoa học văn hóa xã hội, văn nghệ dân gian.

Năm 1982, ngành văn hóa các tỉnh Tây Nguyên, với sự giúp đỡ của Viện Nghiên cứu Văn học nghệ thuật  TP. Hồ Chí Minh, đã tổ chức lớp KPVAC (khai thác, phát huy văn hóa âm nhạc cổ truyền) tại Đắk Lắk, từ đó đặt dấu ấn đầu tiên cho công tác sưu tầm, nghiên cứu văn hóa - văn nghệ dân gian các dân tộc thiểu số Tây Nguyên ngay tại Tây Nguyên. Lớp học ngày ấy có cả anh chị em yêu thích công tác sưu tầm văn hóa của không chỉ Tây Nguyên, mà cả các tỉnh Bình Định, Phú Khánh, Quảng Ngãi... tham gia. Đó có thể được coi là những hạt giống đầu tiên của công tác sưu tầm văn nghệ dân gian, được thế hệ đi trước nâng niu “gieo xuống” miền Trung - Tây Nguyên.

Tây Nguyên ngay lập tức trở thành một trong những địa chỉ được đặc biệt chú trọng của công tác sưu tầm, nghiên cứu của Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam. Hình ảnh các giáo sư Đặng Nghiêm Vạn, Chu Thái Sơn, Ngô Đức Thịnh, Đỗ Hồng Kỳ, Phan Đăng Nhật... miệt mài, lặn lội ghi âm, chỉnh lý;  các giáo sư Tô Vũ, Trần Quốc Vượng, Tô Ngọc Thanh, Nguyễn Xuân Kính say sưa trên bục giảng ươm gieo không chỉ kiến thức mà còn cả sự tận tụy với nghề... như những tấm gương trên con đường dài vạn dặm dẫn đến với văn hóa cổ truyền Tây Nguyên. 

Chi hội Văn nghệ dân gian đầu tiên ở Tây Nguyên được thành lập ở Trường Cao đẳng Sư phạm Đắk Lắk; tiếp đó là chi hội Kon Tum, Gia Lai, Lâm Đồng... lần lượt ra mắt. Đội ngũ rải rác khắp Tây Nguyên đã có nơi chốn tập hợp lại để hỗ trợ nhau cho cùng một mục đích: bảo tồn văn hóa truyền thống.

 Tôi luôn nhớ về những người bạn đồng nghiệp, như tiến sĩ Tấn Vịnh: từ lúc chỉ là những bài viết vừa tròn  một trang vở học trò, cho đến lúc là tiến sĩ vẫn thủy chung với kho tàng văn hóa dân gian các dân tộc Trường Sơn - Tây Nguyên. Hay nhà thơ Văn Công Hùng, từ chỗ chỉ tò mò kể lại một cách vô tư những tập tục đã dần chuyển sang tình cảm yêu mến và trân trọng những giá trị nhân bản của văn hóa phong tục Tây Nguyên. Hoặc Nghệ sĩ Ưu tú Vũ Lân, nhà sưu tầm Trương Bi, cố nhạc sĩ Y Sơn Niê (Đắk Lắk), họa sĩ Phùng Sơn, cố nhạc sĩ Phạm Cao Đạt (Kon Tum), Nguyễn Quang Tuệ, Nguyễn Thị Kim Vân, nghệ sĩ Trần Phong (Gia Lai), K’ra Zan Plin (Lâm Đồng)... mê mải tháng năm với những cây đàn, điệu múa, mảng hoa văn cổ, những bức tượng nhà mồ, từng trang sử thi... như người bới tro tìm ngọc, đưa ra ánh sáng, cho di sản văn nghệ Tây Nguyên chói lòa lên trong ánh nắng mặt trời rực rỡ của cao nguyên. Rồi những nghệ nhân già, các “báu vật dân gian” đắm say với việc “giữ hồn của rừng” như nghệ nhân Điểu Kâu, các cụ Điểu Klứt, Điểu Glung (dân tộc M’nông), A Lựu, Gang, A Ya (dân tộc Bânar), Âe Wưu, Y Yơn (dân tộc Êđê)…

Các giải thưởng hằng năm của Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam trao cho Trương Bi, Tấn Vịnh, Linh Nga Niê Kdam, Nguyễn Quang Tuệ; nghiên cứu của các tiến sĩ Thu Nhung Mlô Dun Du, Tuyết Nhung Buôn Krông; những người sưu tầm trẻ các dân tộc bản địa dấn thân vào con đường nghiên cứu văn hóa dân gian Tây Nguyên như  Lý Vân Linh Niê Kdam, Y Chen Niê (Êđê), Nay Kỳ Hiệp, Kpă Tố Nga, Siu H’Ril, Siu Tâm (Jrai), Y Tuyn Bing (M’nông), Phạm Thị Trung, Phạm Văn Hoàng (Sê Đăng), Y Phương (Bâhnar), K’ra Zan Đick (K’Ho)... là những minh chứng sống động cho sự trưởng thành của đội ngũ làm công tác sưu tầm văn nghệ dân gian Tây Nguyên.

Đội ngũ những người làm công tác sưu tầm nghiên cứu văn nghệ dân gian Tây Nguyên đã đi từ không đến có, không chỉ được tập hợp lại, mà còn ngày một trưởng thành về nghề nghiệp, đủ sức đứng vững trên nhiệm vụ công tác và niềm say mê của chính mình.

Từ thuở sơ khai, đến nay những người sưu tầm văn hóa dân gian Tây Nguyên đã chuyển từ sưu tầm đơn thuần sang nghiên cứu chuyên sâu. Như Tuyết Nhung Buôn Krông nghiên cứu về vai trò mẫu hệ trong sử thi; Linh Nga Niê Kdam tìm hiểu về đặc tính âm nhạc trong trường ca, sử thi; Phạm Thị Trung, Nay Kỳ Hiệp với tâm linh của người Sê Đăng và Jrai; Y Tuynh Bing, Kpă Tố Nga, Y Phương… nghiên cứu về các lễ bỏ mả M’nông, Jrai, Bâhnar; Lý Vân Linh Niê Kdam tìm hiểu về nhạc cụ dân gian của người Êđê Kpă; Lý Sol, Mang Linh Nga với nghệ thuật múa dân gian, Nga Rivê với văn hóa dân gian Ka Dong, Hrê… Không chỉ đào sâu, minh chứng sự phong phú, độc đáo mà còn giới thiệu cả vai trò, vị trí, lẫn hiện trạng, đề xuất giải pháp bảo tồn của nghệ thuật diễn xướng trong đời sống của các tộc người Tây Nguyên…

Mừng đội ngũ mỗi ngày mỗi đông. Vui lắm với những tác phẩm, những công trình nghiên cứu giới thiệu vẻ đẹp của văn nghệ dân gian Tây Nguyên ngày càng xuất hiện nhiều hơn trên văn đàn. Tiếc lắm những nghệ nhân – “báu vật dân gian” - đã mang theo cả kho tri thức Tây Nguyên khổng lồ đi về cõi mang lung. Thương lắm tấm lòng những con người ngày đêm lặng lẽ gạn đục khơi trong, làm sống lại cả một nền văn minh nương rẫy Tây Nguyên, trong đó có “Không gian Văn hóa cồng chiêng” đã được thế giới công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Linh Nga Niê Kdam