Bảo tồn, phát huy vốn văn hóa truyền thống: Nhìn từ việc truyền dạy cồng chiêng (Kỳ 2)

Cập nhật lúc: 09:28 29/03/2021

Kỳ 2:  Xem trọng yếu tố bền vững

Yếu tố bền vững trong việc bảo tồn, phát huy Di sản Văn hóa cồng chiêng Đắk Lắk là yêu cầu đặt ra trước mắt cũng như lâu dài. Làm gì để đạt được yêu cầu này là điều mà các nhà quản lý, nghệ nhân và cộng đồng các dân tộc trên địa bàn tỉnh quan tâm trăn trở.

Tại Lễ tổng kết, đánh giá 5 năm thực hiện Đề án bảo tồn, phát huy văn hóa cồng chiêng Đắk Lắk, giai đoạn 2016 – 2020, nhiều nghệ nhân chân thành bày tỏ: Việc truyền dạy diễn xướng cồng chiêng cho lớp trẻ phải đi vào thực chất, tránh rơi vào tình trạng phong trào, hoặc "đứt gãy" nửa chừng do người dạy và học không đến nơi, đến chốn. Nói cách khác là chất lượng của công tác này phải thường xuyên được quan tâm và đặt lên hàng đầu.      

Đi vào thực chất

Theo anh A Mang, Phó Trưởng Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Cư M’gar, muốn bảo tồn và phát huy vốn văn hóa truyền thống thì việc giáo dục, đào tạo thế hệ kế thừa là khâu quan trọng nhất. Thời gian qua, chính quyền huyện Cư M’gar đã đầu tư hơn 600 triệu đồng để tổ chức hơn 30 lớp truyền dạy cồng chiêng, chế tác nhạc cụ dân tộc, hát múa dân gian cho hàng trăm thanh thiếu niên trong các buôn làng. Con số thì rõ ràng như vậy, tuy nhiên chất lượng và hiệu quả như thế nào thì vẫn chưa kiểm chứng được.

Sinh viên người dân tộc thiểu số tại chỗ Trường Đại học Tây Nguyên học đánh chiêng.

Cụ thể là phải đánh giá, kiểm tra và xác nhận các em tham gia các hoạt động trên, nhất là diễn tấu cồng chiêng đã lĩnh hội, nắm giữ kiến thức được truyền thụ đến đâu, ở mức độ nào? Ví như đánh chiêng thì phải biết các em đã thuộc lòng và đánh được bao nhiêu bài chiêng, có thể đảm nhận vị trí nào trong phiên chế dàn chiêng của mỗi cộng đồng dân tộc; thao tác diễn xướng đã chính xác, thuần thục hay chưa…? Tất cả những điều đó đến nay, không riêng gì huyện Cư M’gar mà hầu hết các địa phương khác đều chưa thống kê, kiểm chứng được.

 
Thay vì ngành văn hóa đứng ra mở lớp và mời nghệ nhân đến truyền dạy cồng chiêng, hay bất kỳ vốn văn hóa truyền thống nào đó, thì nên trao quyền ấy cho gia đình, dòng họ và cộng đồng sẽ đem lại hiệu quả lớn hơn. Nhà nước, mà trực tiếp là ngành văn hóa nên quan tâm đến vấn đề này bằng những động thái gần gũi, thiết thực hơn như phát hiện, nêu gương và khen thưởng kịp thời (vật chất lẫn tinh thần) cho những gia đình, cộng đồng làm tốt công tác trên”.
 
Nghệ nhân Ưu tú Y Biong

Nghệ nhân Ưu tú Y Biong (tên thường gọi là Ama H’Loan) cho rằng phải đam mê và có nhu cầu thật sự mới học đánh chiêng được, còn tham gia theo kiểu phong trào thì không bao giờ thành công cả. Ông dẫn chứng như trường hợp hai anh em Y Mơn và Y Nép Êban ở buôn Akô Dhông (TP. Buôn Ma Thuột) cùng học đánh chiêng nhưng chỉ có người em thực sự đam mê, tuổi mới 15 mà chịu khó tự mày mò học hỏi, được Ama H’Loan hướng dẫn tận tình nên đã chơi được những bài chiêng cổ khó nhất. Hiện Y Nép tự tin cùng cha mình kết hợp với những nghệ nhân lớn tuổi khác trong buôn tham gia biểu diễn cồng chiêng khắp nơi, từ phục vụ khách du lịch đến các hoạt động văn hóa, văn nghệ được các cấp, ngành tổ chức thường niên.

Chú trọng vai trò gia đình và cộng đồng

Trong câu chuyện gìn giữ, bảo tồn vốn văn hóa truyền thống dân tộc, nhiều người am hiểu và tâm huyết cho rằng nên chú trọng, phát huy vai trò gia đình và cộng đồng, thay vì “giao khoán” cho ngành văn hóa như hiện nay, khiến công tác trên ít nhiều gặp khó khăn và hạn chế trước mục tiêu đặt ra: mỗi buôn làng phải có ít nhất một đội chiêng trẻ hoạt động thường xuyên và hiệu quả.

Nhà nghiên cứu, quản lý văn hóa Y Kô Niê, Phó Trưởng Đoàn ca múa dân tộc Đắk Lắk cũng như Nghệ nhân Ưu tú Y Biong cho rằng, trên thực tế thì vẫn có lúc, có nơi không ít đội chiêng trẻ trên địa bàn tỉnh sinh hoạt không thường xuyên, bấp bênh và dễ đứt gãy. Nguyên nhân là do trong quá trình thực hiện, những người có trách nhiệm đã không chú trọng đến tính chất, cấu trúc và tổ chức xã hội cổ truyền của các cộng đồng dân tộc thiểu số ở đây. Đơn cử, các em trai thường được truyền thụ cồng chiêng ở độ tuổi 13 – 18, sau khi trưởng thành và lấy vợ thì buộc phải chuyển cư theo tập tục mẫu hệ, tức là người con trai phải về ở nhà bố mẹ vợ suốt đời, nên hầu hết trở nên bỡ ngỡ trước hoàn cảnh, môi trường sinh sống mới. Ở đó, một mặt họ khó hòa nhập với đội chiêng tại chỗ, mặt khác lại bị chia cách với đội chiêng cũ, khiến mối dây liên hệ bền chặt nhằm tái hiện đời sống cồng chiêng trẻ trong các buôn làng trở nên lỏng lẻo. Vì thế, nên thay đổi hình thức tập hợp, truyền dạy cồng chiêng cho lớp trẻ phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh xã hội của các cộng đồng, người dân tộc thiểu số.

Đình Đối