Liên hệ - Góp ý     Danh bạ     Lịch công tác     Hỏi đáp      Kho Download       Tìm kiếm       Sơ đồ Website              
BẢO TỒN BẢO TÀNG
Nhìn lại một năm hoạt động của Bảo tàng tỉnh Đắk Lắk

Bảo tàng tỉnh Đắk Lắk là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch được thành lập trên cơ sở của Nhà Truyền thống tỉnh. Trải qua 34 năm hoạt động và trưởng thành Bảo tàng tỉnh đã có nhiều những thay đổi đáng phấn khởi. Đặc biệt, năm 2011 được sự quan tâm chỉ đạo trực tiếp của Ban Giám đốc, Đảng ủy, BCH Công đoàn Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch công tác Bảo tàng đã có những khởi sắc to lớn.
Bảo tàng tỉnh hiện có 57 cán bộ, viên chức (trong đó 20 nam, 37 nữ; 06 người là dân tộc thiểu số; 01 tiến sĩ, 28 đại học, 13 cao đẳng, 6 trung cấp), với 5 phòng chức năng (Phòng Hành chính - Tổng hợp; Phòng Nghiên cứu sưu tầm; Phòng Kiểm kê, Bảo quản & Thư viện; Phòng Trưng bày; Phòng Giáo dục & Công chúng).
Trong năm 2011, mặc dù dự án FSP đang dần đi vào giai đoạn cuối nhưng tập thể cán bộ, viên chức của đơn vị đã cùng nhau đoàn kết, khắc phục mọi khó khăn, nỗ lực phấn đấu để hoàn thành nhiệm vụ của cấp trên giao, cụ thể:

1. Công tác chuyên môn nghiệp vụ:
a. Công tác nghiên cứu sưu tầm:
Năm 2011, Bảo tàng Đắk Lắk đã sưu tầm được một số hiện vật có giá trị rất lớn về văn hoá và lịch sử như: Trống đồng; phin cà phê lớn nhất được lập kỷ lục tại Festival Cà phê Buôn Ma Thuột lần thứ 3 năm 2011; hiện vật khảo cổ Iôny;  02 hiện vật Lịch sử; 11 đơn vị hiện vật về trang phục Hầu đồng; Sưu tập 100 hiện vật khảo cổ tỉnh Kon Tum… Tiến hành khảo sát khảo cổ tại huyện Krông Bông; huyện Čư Mgar, huyện Ea Kar … Làm báo cáo về các đợt điền dã khảo sát hiện vật để làm hồ sơ lưu nhập kho. Ngoài ra, còn tiến hành sưu tầm tư liệu, hình ảnh tại Hội chợ Doanh nhân làm theo tấm gương, đạo đức Chủ tịch Hồ Chí Minh…
Ngoài công tác sưu tầm hiện vật bổ sung cho kho bảo quản, còn chú trọng đến việc sưu tầm hình ảnh, tư liệu cho phần Văn hoá dân tộc, Đa dạng sinh học, Lịch sử phục vụ cho công tác trưng bày Bảo tàng mới như:
+ Phần Văn hóa dân tộc: Sưu tầm hình ảnh về Góc bếp của dân tộc Êđê; Gian hàng thuốc nam; Lễ cúng lúa mới của người Xê Đăng; tư liệu, hình ảnh về người M’Nông; Sưu tầm thông tin tư liệu về người Kinh (Lễ mừng Đàn Tứ phủ, Tứ tòa sơn trang, Chầu ông Hoàng Bảy; Lễ Vân Hương Thánh hội, Lễ tế tiệc Đức thánh Trần…).
+ Phần Đa dạng sinh học: Sưu tầm số lượng voi nhà hiện có trên địa bàn tỉnh; Mẫu sản phẩm gỗ và phim tư liệu về gỗ rừng trồng;
+ Phần Lịch sử: Nghiên cứu, sưu tầm tư liệu làm dự thảo sơ đồ khởi nghĩa N’Trang Gưh; 
Thực hiện việc xác minh tiếng Êđê các hiện vật trưng bày của phần Văn hoá dân tộc và các thông tin hiện vật theo hồ sơ trưng bày trong Bảo tàng mới.
Tiến hành dựng phim về Văn hoá dân tộc; Lịch sử phục vụ cho trưng bày Bảo tàng mới.
b. Công tác kiểm kê, bảo quản và thư  viện:
Tổ chức di chuyển trên 10.000 hiện vật sang vị trí mới an toàn, không hư hỏng, mất mát. Bước đầu sắp xếp hiện vật, xử lý hiện vật chống nấm mốc trong mùa mưa.
Nhập dữ liệu hiện vật của sổ kiểm kê bước đầu vào máy tính; Theo dõi bảo quản hiện vật.
Tiến hành bảo quản phòng ngừa cho hiện vật để phục vụ trưng bày bảo tàng mới.
c. Công tác Trưng bày, Giáo dục - Công chúng:
Do cơ quan phải di chuyển địa điểm, phải tháo dỡ trưng bày thường xuyên từ ngày 22/01/2011 nên số lượng khách tham quan giảm khá lớn. Để đảm bảo kế hoạch đề ra từ đầu năm, Bảo tàng Đắk Lắk đã tổ chức các cuộc trưng bày chuyên đề và lưu động nhân dịp các ngày lễ lớn trong năm như: tổ chức được 4 cuộc trưng bày lưu động với chuyên đề: “Những mốc son lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các thời kỳ” nhân Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, trong đó có 3 cuộc về tận vùng sâu, vùng xa như xã Ea Rvê, xã Ya Lốp (huyện Ea Súp), xã Krông Na (huyện Buôn Đôn), 01 cuộc tại xã Ea Tu (Buôn Ma Thuột); và 2 cuộc trưng bày chuyên đề rất đặc biệt như là: Triển lãm ảnh “Âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên” phục vụ Lễ hội Cà phê Buôn Ma Thuột lần thứ 3;  Triển lãm ảnh: “Chủ tịch Hồ Chí Minh - Hành trình cứu nước” phục vụ kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (05/6/1911 - 05/6/2011) gắn với kỷ niệm 121 năm ngày sinh của Người (19/5/1890 -19/5/2011). Vì thế, mặc dù không có phần trưng bày thường xuyên nhưng trong năm 2011 Bảo tàng Đắk Lắk đã phục vụ được 1.966 đoàn với 22.401 lượt người, trong đó, khách trong nước là 1.845 đoàn 21.818 lượt khách; Khách nước ngoài là 121 đoàn với 583 lượt khách, chủ yếu là của trưng bày chuyên đề, trưng bày lưu động và Sa bàn chiến thắng Buôn Ma Thuột.
Bên cạnh đó, Bảo tàng Đắk Lắk còn chú trọng đến công tác phối hợp với các trường học xây dựng chương trình “Trường học thân thiện, học sinh tích cực” phục vụ một số lượng đông đảo học sinh trong và ngoài tỉnh đến tham quan và học tập. Trong năm đã phục vụ được 20 đoàn với 1.241 lượt học sinh từ tiểu học đến trung học phổ thông.
Từ cuối tháng 9/2011, Bảo tàng Đắk Lắk tập trung vào công tác chuẩn bị hiện vật, xây dựng và chuẩn bị lộ trình chuyển hiện vật lên phòng trưng bày. Tiến hành lắp đặt chi tiết đồ hoạ và triển khai công tác thi công trưng bày phòng trưng bày thường xuyên của Bảo tàng, Tập thể Cán bộ viên chức bảo tàng làm việc khẩn trương, an toàn, chất lượng đảm bảo đúng tiến độ khánh thành bảo tàng mới.
 Với sự nỗ lực tận tâm của toàn thể CB,VC Bảo tàng, ngày 21/11/2011 lễ khánh thành Bảo tàng Đắk Lắk đã được tổ chức long trọng và thành công tốt đẹp với hơn 300 đại biểu và khách tham quan. Sự kiện này đã đánh dấu một bước phát triển mới của Bảo tàng Đắk Lắk và cũng là mốc son quan trọng trong tiến trình xây dựng và phát triển của Bảo tàng khu vực nói chung và Đắk Lắk nói riêng.

2. Công tác phục vụ dự án FSP (Phát huy di sản Bảo tàng Việt Nam):
Được sự tạo điều kiện của UBND tỉnh, sự chỉ đạo sát sao của Sở VHTT&DL, Bảo tàng đã tiếp và làm việc với các chuyên gia trong khuôn khổ Dự án FSP về một số nội dung cơ bản như:
Tổ chức các nhà chuyên môn trong tỉnh họp góp ý vào bản thiết kế logo, tham mưu cho Ban Giám đốc Sở trình UBND tỉnh lựa chọn logo cho Bảo tàng theo chỉ đạo của Giám đốc Sở;
Phối hợp với Ban quản lý dự án thúc đẩy tiến độ thi công nội thất, sản xuất tủ bục, lắp đặt ray đèn, thử đèn;
Hoàn thiện và duyệt nội dung các bài viết giới thiệu, bìa, mục lục, quy cách trình bày, bản tiếng Việt, Anh, Pháp cho catalogue; Hoàn thiện, rà soát và kiểm tra lại đồ hoạ chú thích hiện vật, chú thích ảnh, các bài text, sách cứng, hệ thống chỉ dẫn trong Bảo tàng; Kiểm tra bản bông trưng bày của Phần Văn hoá dân tộc và Đa dạng sinh học; Sửa bản bông của trưng bày lịch sử;
Tập huấn về cách lập hồ sơ hiện vật, bổ sung thông tin vào hồ sơ hiện vật, bảo quản phòng ngừa hiện vật…; Rà soát, đối chiếu số đăng ký của hiện vật; Lập hồ sơ hiện vật trước khi trưng bày;
Chọn ảnh về hoạt động của các chuyên gia Dự án FSP từ năm 2005 đến nay; Làm việc về công tác truyền thông trong Bảo tàng, chuẩn bị cho ngày khai trương;

3. Công tác học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ:
Năm 2011, đã tổ chức 6 buổi sinh hoạt khoa học cho cán bộ, viên chức Bảo tàng với các diễn giả và chuyên đề như sau: 
3.1. PGS - TS Nguyễn Khắc Sử nói chuyện chuyên đề:“Khảo cổ học Tây Nguyên - Đắk Lắk”;
3.2. Tiến sỹ Lưu Hùng, PGĐ Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam nói chuyện chuyên đề: “Những cơ hội và thách thức đối với Bảo tàng Đắk Lắk khi đưa vào quản lý và phát huy tác dụng trung bày mới”; 
3.3. Tiến sỹ Chu Đức Tính, Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh (Hà Nội) Nói chuyện về: “Công tác giáo dục và công chúng ở bảo tàng; qua thực tế hoạt động của Bảo tàng Hồ Chí Minh trong những năm qua”; 
3.4. Thạc sỹ Nguyễn Thị Hồng Mai, Trưởng phòng bảo quản, thuộc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam: “Vấn đề ứng xử với hiện vật trong kho bảo quản và trên trưng bày”;
3.5. Cử nhân Huỳnh Ngọc Vân, Giám đốc Bảo tàng chứng tính chiến tranh “Công tác giáo dục và công chúng ở bảo tàng; qua thực tế hoạt động của Bảo tàng chứng tính chiến tranh trong những năm qua”.
3.6. Đại tá Nguyễn Xuân Quang, Báo cáo viên cấp tỉnh, Trưởng phòng PA 83, Công an tỉnh Đắk Lắk nói chuyện chuyên đề: “Những quy định tiếp xúc với người nước ngoài” và “Một số tình huống liên quan đến tiếp xúc với người nước ngoài có thể xảy ra”.
Những sinh hoạt khoa học trên đã góp phần nâng cao tay nghề cho CCVC của bảo tàng, đồng thời đã tiết kiệm được khá nhiều kinh phí cho Nhà nước trong việc đào tạo và đào tạo lại cán bộ, viên chức. Bên cạnh đó, nhằm tạo điều kiện cho các CCVC trong cơ quan có nhiều hiểu biết về văn hoá, cuộc sống của đồng bào các dân tộc, Bảo tàng đã tổ chức cho hơn 30 CCVC tham dự Lễ hội của các Dân tộc miền núi phía Bắc tại huyện Krông Năng; Tổ chức 02 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ thuyết minh cho 21 CCVC Bảo tàng và lựa chọn hơn 10 cá nhân được trang bị những kiến thức tối thiểu và những kỹ năng trong việc hướng dẫn khách tham quan Bảo tàng; Cử cán bộ chuyên ngành thư viện tham dự lớp đào tạo lý thuyết và thực hành SD khung phân loại DDC 14 nâng cao và xử lý nội dung tài liệu phục vụ cho thư viện chuyên ngành của bảo tàng.
Hiện tại đơn vị có cử 02 viên chức theo học Đại học liên thông; bên cạnh đó có 05 viên chức học Đại học liên thông, tại chức và văn bằng 2 theo hình thức tự túc và 01 viên chức được tham gia học lớp tiếng Anh do một tổ chức nước ngoài tài trợ kinh phí.

4. Công tác khác:
Hoàn thành tốt các nhiệm vụ chính trị, các hoạt động xã hội cũng như các phong trào do cấp trên phát động như: Tham gia hội thao do Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tổ chức; Vận động quần chúng tại buôn kết nghĩa Tung Krăk, xã Ea Drông, thị xã Buôn Hồ (02 đợt); Giải thể thao Dance sport toàn quốc, giải Việt dã Sacombank, giải Kich - Boxing, giải Bóng bàn toàn quốc năm 2011. Thắp nến nhân ngày Thương binh, Liệt sĩ 27/7/2011 tại Nghĩa trang Liệt sĩ thành phố; Hiến máu nhân đạo do Liên đoàn Lao động tỉnh tổ chức…
Tổ chức Hội nghị cán bộ, công chức viên chức năm 2011 nhằm đánh giá tình hình hoạt động năm 2010, đồng thời đề ra những phương hướng hoạt động năm 2011 của đơn vị; Sơ kết công tác 6 tháng đầu năm 2011, báo cáo tình hình hoạt động bảo tồn và phát huy di sản văn hoá dân tộc và phương hướng hoạt động cho 6 tháng cuối năm và cho những năm tiếp theo; Triển khai công tác quy hoạch cán bộ theo chỉ đạo của Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch để xây dựng một bộ máy quản lý cơ quan hoạt động hiệu quả nhất, cho đến nay các phòng ban của Bảo tàng đã đi vào hoạt động nề nếp, có hiệu quả.
Được sự uỷ quyền của Ban Giám đốc Sở VHTTDL, đã tham dự Hội nghị của các Di sản thế giới ở Việt Nam do Cục Di sản tổ chức tại Hà Nội; Hội nghị thông báo “Những phát hiện mới về Khảo cổ học lần thứ 46” năm 2011 do Viện Khảo cổ học tổ chức tại Hà Nội; Đón tiếp và hướng dẫn đoàn Đại sứ quán Pháp cùng lãnh đạo tỉnh tham quan công trình Bảo tàng; Trưởng dự án FSP “Phát huy di sản Bảo tàng Việt Nam” đến kiểm tra công trình Bảo tàng….Đoàn công tác tỉnh Quảng Ninh đến tìm hiểu về công tác trưng bày trong Bảo tàng;
Tổ chức tuyên truyền (treo cờ, băng zôn), trực đảm bảo an toàn không xảy ra mất an ninh trật tự trong các dịp tết Dương lịch; tết Nguyên Đán Tân Mão 2011; Ngày bầu cử Quốc hội khóa XIII và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011 - 2016; Kỷ niệm 66 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9…
Tổ chức gặp mặt, toạ đàm nhân các ngày lễ, kỷ niệm trong năm như: Ngày quốc tế Phụ nữ 8/3, Quốc tế Bảo tàng 18/5, Quốc tế thiếu nhi 1/6, Tết trung thu cho các cháu thiếu nhi, Ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam 20/10. Đặc biệt, nhân dịp ngày 18/5 đã tổ chức thành công Đại hội nhiệm kỳ III Câu lạc bộ Bảo tàng các tỉnh Tây Nguyên…
Có thể nói, phong cách trưng bày của Bảo tàng Đắk Lắk thật sự đã giúp cá tính hóa phong cách trưng bày so với các Bảo tàng cấp tỉnh trong khu vực. Nó tạo nên một phong cách riêng, mới cho khách tham quan đặc biệt là khách tham quan nội địa trong những thập niên đầu của thế kỷ XXI ở Việt Nam nói chung, Tây Nguyên nói riêng. Đó là sự nhạy bén của Lãnh đạo tỉnh Đắk Lắk, đã cho phép một Bảo tàng cấp tỉnh được thử nghiệm trưng bày theo phương pháp tiên tiến, với quan niệm Bảo tàng học hiện đại không dùng cách tiếp cận cũ kỹ mà dùng hệ thống etiket trong trưng bày không cần thuyết minh; Sử dụng 4 ngôn ngữ, trong đó có việc tôn trọng ngôn ngữ của người dân tộc bản địa, tôn trọng chủ thể văn hóa… Tiên phong trong việc sử dụng ngôn ngữ của dân tộc bản địa, không những thế Bảo tàng Đắk Lắk còn chứng tỏ sự nhanh nhạy qua việc đưa một phần trưng bày về cảnh báo môi trường trong điều kiện thế giới đang nóng lên về việc biến đổi khí hậu của trái đất như hiện nay.
Bằng việc tôn trọng hiện vật gốc, tôn trọng chủ thể sáng tạo ra hiện vật, tôn trọng cộng đồng qua những thước phim phản ánh chân thực đời sống văn hóa cộng đồng. Bảo tàng Đắk Lắk đã xây dựng hình ảnh của mình mang phong cách một Bảo tàng hiện đại nhưng vẫn đậm chất truyền thống dân tộc, chi phí ít mà vẫn tiếp cận đúng phong cách của các Bảo tàng trên thế giới, đó cũng chính là một nỗ lực đáng ghi nhận để vươn tới một Bảo tàng đẳng cấp trong khu vực.
Với những thành tích như trên, để ghi nhận những đóng góp của tập thể cán bộ, viên chức của Bảo tàng tỉnh. Hội đồng Thi đua Khen thưởng Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch đã quyết định công nhận 40 cá nhân đạt lao động tiên tiến, tặng giấy khen của Giám đốc Sở cho 12 cá nhân, đề nghị Chủ tịch tỉnh tặng bằng khen cho 02 cá nhân, công nhận danh hiệu Chiến sỹ Thi đua cấp cơ sở cho 10 cá nhân và đề nghị Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch tặng Cờ thi đua xuất sắc cho đơn vị.
Để có được những kết quả như trên là nhờ có sự đoàn kết một lòng và tinh thần làm việc hết mình của toàn thể cán bộ, viên chức của đơn vị. Bước sang năm mới Nhâm Thìn 2012, hy vọng Bảo tàng sẽ phát huy được nội lực của mình để xứng đáng là một Bảo tàng đẳng cấp./.


Một số ảnh hiện vật trưng bày tại bảo tàng cũ

 

Một số ảnh hiện vật trưng bày tại bảo tàng mới

 

 

 

Quang Năm


  • Một số Di tích lịch sử và Danh thắng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk ( 01/11/2011 )
  • Thực trạng Tượng Nhà Mồ ở Đắk Lắk ( 30/10/2011 )
  • Phục Dựng Lễ Cúng Thần Lúa tại buôn T’Liêr, xã Hòa Phong, huyện Krông Bông. ( 13/07/2011 )
  • Lễ ăn cơm mới của dân tộc Ê Đê ( 20/02/2011 )
  • Bảo tồn Buôn cổ M'liêng ( 17/02/2011 )
  • Quảng cáo